Mục Đích – Chương 8

Ngày làm đầu tiên của Nguyễn Dương đối với người khác mà nói, không thể tả gì khác hơn ngoài hai chữ: “tai họa.” Ừ, thì đối với một người như anh, lúc nào cũng sẵn sàng đối mặt với những thách thức cao lớn. Đối với việc người khác có sẵn sàng hay không, anh làm sao mà biết được? Nhưng lần đầu tiên khi xem anh làm những việc bưng bê bồi bàn hay bầu bạn bên bếp này, phải gọi là thách đố của cuộc đời những người xung quanh trong Tam Phương Hương Vị!

Sáng ra, việc đầu tiên là anh được anh Lân chỉ bảo mọi thứ trên tầng hai trong lúc giúp anh ta trải các tấm khăn gấm lên bàn. Anh Lân này cũng thuộc loại chỉ bảo cặn kẽ, nói từ trên trời xuống dưới đất: nào là khi gặp khách lên lầu thì phải chào thế nào, các món ăn đặc biệt gồm có những gì, khi khách gọi cơm thì phải viết và nhắn ra sao,… Dương ta nghe vào tai này thì thấy đầu bùng nhùng một lúc, mãi sau khi cho ra được hơn nửa số câu của anh Lân ra tai kia, gật gật gù gù một hồi mới thấy tàm tạm ổn. Ai ngờ… nói thì dễ dàng, chứ động vào việc thì… khó chơi à!

Một giờ đầu, anh được chỉ định làm phụ việc cho anh Lân. Việc cười nói những lời nho nhã hay đọc vanh vách tên các món ăn thật sự khiến anh Lân kia tròn mắt, hí hửng mình được cho một anh chàng mới thật thông minh hiếm có. Tuy nhiên, chẳng lâu sau đó, chén cháo gà đầu tiên anh cầm theo một tiếng “xoảng” mà rơi xuống nền gỗ, những mảnh gốm vụn hòa với những đốm nhờ nhờ màu cháo bắn tung tóe trên sàn là thành phẩm đầu tiên. Anh thật không ngờ, một chén cháo mới ra khỏi nồi có thể nóng như thế. ‘Thật là may mắn, thứ cầm bỏng tay như thế mà đến khách, chắc chỉ có nước bỏng miệng, có khi lại bị mắng ấy chứ!’

Lúc lấy khăn ra lau nhà, anh thì hì hụi lau lau chà chà, còn người khác có cảm tưởng cái đống này chỉ lan ra chứ không hề thu gọn lại, anh Lân kia chỉ khẽ lắc đầu:

“Người mới mà, chắc một chút sẽ quen thôi!”

Lại sau một loạt mấy tiếng “loảng xoảng” tiếp đó ở trên lầu, lúc anh liên tiếp làm đổ vỡ chén đũa cùng đồ ăn, bất kể trước hoặc sau khi đến được bàn của khách, anh Lân lúc này mới từ trên mây rơi tự do xuống đất:

“Trời ạ! Cậu có làm được chuyện gì ra hồn không vậy? Đi xuống bếp cho tôi!”

Vậy là giờ thứ hai, anh xuống bầu bạn với ông đầu bếp trước đôi mắt hí của lão Đoàn. Sau khi nghe được phong phanh mấy tác phẩm nghệ thuật anh tạo ra trên lầu, việc đầu tiên anh được sắp xếp là nhặt rau thay vì rửa chén. Nhưng với một lượng bắt đầu giống nhau, thành quả số rau anh nhặt được so với người khác chỉ bằng một phần mười. Trong lúc anh ngắm nghía tác phẩm hoàn thành của mình với tiêu chí: ‘chất lượng gấp mười lần số lượng’, anh Tí bên cạnh nhìn anh với con mắt phải gọi là trợn trừng:

“Giời ơi! Cậu nhìn thử xem, số rau cậu bỏ đi so với số rau cậu bắt đầu sao chẳng khác gì nhau vậy? Cậu tính cho khách ăn khí thay rau à?”

Vậy là sau đó, anh được phân cho một công việc rất quan trọng: đó là cho củi vào bếp lúc cần thiết. Nhưng mà hình như lửa không thích anh cho lắm thì phải, anh cứ cho củi vào là không nhanh thì muộn sau đó, lửa bếp không những không to lên mà còn từ từ lụi đi. Bác Đăng đầu bếp lúc đó thật sự đã bị lửa bốc lên tận đầu, chỉ thiếu điều đá anh một phát bay ra giếng. Anh Tí đành phải nhẹ nhàng gợi ý cho anh:

“Dương này, không phải sớm nay cậu chủ đã yêu cầu anh giúp đỡ cô chủ học viết gì đó sao? Tôi thấy bây giờ là lúc tốt để lên tầng ba giúp cô hai đấy!”

“Nhưng bây giờ chẳng phải là giữa giờ ăn trưa, sẽ có nhiều khách sao?”

Anh ngây thơ hỏi.

“Ôi cậu đừng lo, chuyện ở đây có chúng tôi to tất, cậu cứ lên trên đấy giúp cô chủ đi! Nhanh lên kẻo không cậu chủ về kiểm tra mà không thấy thì nguy đấy!”

Những lời nói của anh Tí này, lúc đầu còn nhẹ nhàng, nhưng càng về sau càng rõ ràng là muốn đẩy anh đi càng xa bếp càng tốt mà. Anh đành đứng dậy, phủi bụi than, lóp cóp đi lên lầu ba, đến văn phòng, nhẹ nhàng nói bên ngoài:

“Cô chủ, tôi vào được chứ?”

“Ai đấy?”

Có tiếng lanh lảnh vọng ra. Anh trả lời, giọng ngập ngừng:

“Tôi, Nguyễn Dương đây ạ!”

“Cạch” một cái, cánh cửa mở ra, lộ một luồng ánh sáng rực rỡ từ trong phát ra. Một thân ảnh nhỏ nhắn sau đó hiện ra, nắm lấy tay anh kéo vào:

“Anh Dương à? Đến đúng lúc lắm! Anh vào đi!”

Căn phòng thật sự rất sáng. Không những mấy cánh cửa sổ hướng ra hai phía bên trái và trước mặt đều mở to, mà cánh cửa thông ra ngoài ban công cũng được để mở. Bên trong căn phòng này có một bộ trường kỉ với bàn uống nước ở ngay giữa, còn thêm một bàn viết ở bên góc trái , gần cả hai cái cửa sổ kia. Tất cả nội thất trong này đều bằng gỗ, quyện trong màu nâu của căng phòng trông càng đẹp.

Con bé kéo anh ngay vào bàn viết, nơi còn đang lộn xộn cả một đống giấy màu vàng nhạt. Trên mấy tờ trên cùng có mấy chữ “Bò,” “Gà,” “Vịt” viết nguệch ngoạc, chiếm khoảng gần nửa trang giấy. Đỗ Hương chỉ mấy tờ đó, nói:

“Em đã viết chữ mẫu rồi, anh cứ như vậy mà viết cho em sao cho mỗi chữ đủ năm mươi lần nhé!”

Miệng anh méo xệch, hỏi:

“Tiểu thư, tại hạ được thiếu gia nhờ giúp đỡ tiểu thư viết chữ chứ đâu phải viết đỡ hộ cô đâu?”

“Ôi anh ơi! Chị em nói anh giúp em thì viết hộ cũng là giúp mà. Anh cứ yên tâm, ở đây chỉ có mười mấy chữ hôm nay em học trong quyển này thôi. Chị có về mà kiểm tra miệng thì em nhớ ngay mà, còn năm mươi lần mỗi chữ thì thật sự quá nhiều, em làm sao viết cho hết được?”

“Tiểu thư, thế này là gian lận đấy! Hiện giờ cô còn bé, nên học tập cách làm người, cần nhiều rèn luyện. Chữ phải tự mình viết mới nhớ lâu, kiến thức mới tốt lên được!”

Nguyễn Dương cố ý giảng giải. Đỗ Hương cũng cố gắng ỉ ôi, cầm tay anh lắc lắc:

“Anh Dương, anh giúp em đi mà, em còn những việc khác nữa cần phải làm!”

Nguyễn Dương dùng tay còn lại đẩy tay cô bé ra, nói nghiêm chỉnh:

“Chiêu này của tiểu thư, chắc chỉ có tác dụng với thiếu gia mà thôi. Đối với tại hạ, thật sự không thể suy suyển gì đâu. Tại hạ sẽ cố gắng giám sát cô theo đúng tiến độ, để không phụ lòng thiếu gia nhờ vả.”

Hương thấy anh thật sự nghiêm túc, biết kế này không thành, cũng ngay lập tức cầm cái bàn tính ở trên bàn, thong thả ngồi trên trường kỉ, lách cách di chuyển từng hột gỗ, nói năng lạnh lùng:

“Đã vậy thì chúng ta giao dịch được không? Cứ mười chữ em trả anh một đồng[1]. Hiện giờ anh cũng đang nợ quán… Xem nào… sáng ra anh làm bể mất ba cái chén, hai cái tô và hai cái đĩa. Toàn là đồ gốm thượng hạng ấy chứ, đặt tít ở Quảng Châu đấy, tính ra đã gần trăm đồng. Chưa kể làm hao tổn của quán một tô cháo gà, một tô cao lầu, một đĩa thịt luộc, làm trở ngại hoạt động trong bếp, đến mức hai khách hàng không chờ được phải bỏ đi, còn bỏ đi số rau tương đương với…”

“Được rồi tiểu thư, bình tĩnh đã. Tại hạ có nợ có trả, nhưng mà có cần thiết phải dùng phương pháp này không?”

Nguyễn Dương cười khổ, nói như van vỉ.

“Em thấy vụ giao dịch này lợi cả đôi đường, là một chuyện hay đấy chứ. Biện pháp trả nợ có rất nhiều, anh có thể làm thêm mấy chuyện lặt vặt này, tối ra cảng ngủ trông kho này. Nhưng mà em thấy, anh mà làm đổ bể hỏng chuyện, số nợ chỉ có tăng lên, không giảm đi đâu. Nhẹ nhất, là chuyện viết chữ trả nợ này rồi!”

Cô bé con nhăn răng cười. Nguyễn Dương hết đường nói, đành gật đầu, tiến đến bên bàn viết, đọc mấy chữ trên giấy. Chữ viết trên này toàn là tiếng Nôm, mà lại hầu hết liên quan về đồ ăn, khiến anh như muốn tròn mắt. Thường thì con người ta, trước hết sẽ học Hán văn trước, sau đó mới đến chữ Nôm. Một người thông minh như anh đây, bốn tuổi bắt đầu cầm viết, mãi khi nhuần nhuyễn kinh thư rồi, mười tuổi mới bắt đầu được học chữ Nôm. Mà nhìn cô bé đang đung đưa chân trên trường kỉ, tay lất phất đưa lên xuống bàn tính kia, thật chưa đến cái tuổi đó. Anh ngờ ngợ muốn thử cô bé, liền đưa một tờ giấy có viết ít chữ lên, hỏi:

“Xin hỏi tiểu thư, nếu cô đã chắc chắn mình viết hai ba lần có thể nhớ rõ. Có thể cho phép tôi hỏi đây là chữ nào không?”

Con bé nhìn trang giấy, nheo nheo mắt, rồi đáp:

“Hươu!”

“Còn chữ này?”

Nguyễn Dương vẫn chưa từ bỏ, hỏi tiếp một tờ gần cuối. Con bé nhìn một thoáng, đáp thờ ơ:

“Bò!”

“Dám hỏi cô, chữ bò này do các chữ gì ghép thành?”

“Chữ bò đó chỉ con bò thôi, còn do các chữ gì ghép thành sao?”

“Chữ Bò này là chữ Nôm, gồm một chữ ‘ngưu’ chỉ con bò trong chữ Hán và một chữ phủ chỉ cách phát âm tiếng Việt[2]. Đến điều cơ bản này mà cô cũng không biết sao?”

“Á! Cái này là mới nhá. Trước giờ em chưa từng nghe thấy! Chị em chỉ cách viết, nói cách đọc, khi em viết chữ nào thì hô chữ ấy, hai ba lần là nhớ thôi. Không ngờ một chữ có thể bổ ra làm mấy chữ như thế này, thật là hay quá!”

Hương khoái chí nhảy dựng lên, lại còn bắt anh chia nhỏ các chữ khác. Nguyễn Dương chỉ nói một lần mười mấy chữ, sau đó hỏi lại, con bé đáp đâu ra đó khiến anh đơ người. Cô bé này là loại thần đồng học đâu nhớ đó sao? Anh quay lại hỏi cô bé:

“Thế bình thường thiếu gia dạy cô như thế nào?”

“Chị ấy có một cuốn sách, trong đó có ghi các chữ em cần học, mỗi ngày em chỉ cần luyện chữ trong một trang sách là được.”

Nguyễn Dương thấy vậy khá ngạc nhiên, hỏi:

“Cuốn sách ấy như thế nào? Tiểu thư cho tôi xem được không?”

Đỗ Phương thấy anh ta có hứng thú như vậy, cũng chẳng ngại ngùng, đưa cho anh xem cuốn sách của mình. Lật ra, anh cũng suýt bật cười ha hả. Trong này toàn các chữ liên quan đến hàng hóa thực phẩm, có đầy tên các loại rau quả, từ húng quế đến cam sành, rồi các loại thịt, tên các món ăn,… Bên cạnh, còn có những kí tự lạ thường anh chưa bao giờ thấy. Anh thắc mắc hỏi Hương:

“Mấy chữ này là gì?”

“À! Đây loại chữ mấy Cha người Bồ Đào Nha hay dùng để giảng dạy, viết trên sách giấy, lâu lâu phát ra ở nhà thờ, cũng khá là đơn giản. Chị em trước đã dạy em chữ này để biết cách đọc chữ Nôm mà không cần hỏi người khác. Chứ chữ Hán thì em chỉ biết mấy từ cần thiết thôi. Loại chữ này lại không hay dùng, em cũng chưa được học làm gì.”

“Mấy cha Bồ Đào Nha? Nhà thờ? Tiểu thư nói gì? Tôi thật không hiểu?”

Nguyễn Dương có ý hỏi, Đỗ Hương bắt đầu liến thoắng nói chuyện. Nào là đó chính là mấy đức cha giảng kinh pháp gì gì đó rất khó hiểu, nó và mọi người nghe một lần đã cho ra tất. Nhưng mấy ông đạo hạnh rất cao, nói đi nói lại không biết mệt, lại còn rất ân cần, chỉ nhiều thứ mới. Mấy ông ở trong một loại nhà gỗ ở ngoại ô, kiến trúc rất khác biệt, gọi là nhà thờ, ngày ngày đi bộ, gặp ai nói đó, rất là nhiệt tình. Chị nó là người thông minh, lại biết làm ăn, thứ chị nó thấy lợi nhất chính là cách viết phiêm âm của họ, liền dò hỏi học tập, chứ các thứ khác thì cũng cho qua. Cái kiểu chữ này, một người chỉ cần trước hết học bảng chữ cái, dấu thanh âm, tập biết cách đánh vần tạo từ ngữ, sắp xếp thành một hệ thống. Sau đó chỉ cần động đến chữ nào mới, biết cách đọc là biết cách viết ngay.

Vì chị nó không có thời gian dạy nó viết chữ, cũng ngại mời thầy, nên mới viết vào một cuốn sách những chữ nó cần học cộng thêm ghi cách đọc bằng chữ này vào bên cạnh, nó hàng ngày chỉ cần lật một trang tự học, sẽ từ từ biết được những chữ hay dùng, có thể đọc được sổ sách lưu loát. Đỗ Hương chỉ cho anh một ví dụ ngắn nhất:

“Đây, chữ bò này được viết gồm một chữ bờ, một chữ o và một dấu chỉ hạ âm từ từ. Vậy nên từ đây về sau, chỉ cần em nhìn thấy chữ Nôm này, là trong đầu sẽ đọc là bờ o bo – bò thôi!”

Nguyễn Dương kinh ngạc, thật không ngờ một chữ phức tạp có thể được đơn giản hóa có hệ thống như vậy. Anh đang tính hỏi tiếp thì con bé đã ngồi lại vào trường kỉ, lọc xọc bàn tính, nói:

“Thôi, nói với anh nhiều thứ quá rồi. Em còn phải tính cái này, anh lo viết chữ đi. Nhớ theo nét bút của em đấy! Chị em về đọc mà nghi ngờ thì em không trả tiền trừ nợ cho anh đâu.”

Thế là anh Dương này không trù trừ được nữa, đành phải lúi cúi chép bài thay cô bé con, giờ đang chau mày, mắt nhìn vào một đống sổ sách, tay thì liên tục lạch cạch trên bàn tính. Đến chiều anh mới viết xong, con bé liền dắt anh xuống bếp, chỉ đống bát đĩa gần giếng, nói với anh:

“Anh mới viết được khoảng năm trăm chữ, tính ra mới chỉ có năm mươi đồng, vẫn còn nợ nhiều. Nên giờ để cho công bằng, em sẽ cho người chỉ anh việc rửa chén trước, anh cứ học tập từ từ, nhớ là cẩn thận, đừng làm vỡ quá nhiều chén bát, lại làm tăng số nợ lên đấy! Dục tốc bất đạt mà.”

Sau đó, nó kêu anh Tí ở trong bếp ra, nói anh ta chỉ dạy tận tình việc rửa chén cho Nguyễn Dương, trong lúc nó quan sát. Anh Tí thấy tự nhiên cô chủ bắt cái người mới lóng ngóng này rửa chén, lòng thầm kêu trời, nhưng vì Đỗ Hương vẫn đứng đấy, anh đành phải chỉ. Anh cố gắng chỉ bảo thật là tận tình, nào là trước hết ngâm chén bát vào chậu đồng chứa nước, sau đó dùng xơ mướp rửa, quét sạch hết những thứ dính vào chén bát. Lại múc nước từ giếng lên, tráng thêm một lần nước sạch, rồi để lên rá hong cho khô…

Đỗ Hương cứ đứng xa xa nhìn, lâu lâu lại thấy anh Tí nhịn hận cầm bát vỡ vứt đi vào một cái rổ, nhưng mặt vẫn bình thường. Đến khi anh Nguyễn Dương kia thật cẩn thận rửa xong chén bát được một rá rồi, con bé mới từ từ đi lên lầu.

Việc rửa chén thật không đơn giản, anh mới làm được một rá, đã có những hai chậu bát đĩa mới cần rửa. Lâu lâu chén đũa không đủ, anh Tí đành phải ra giếng rửa giúp anh. Mắt anh tròn to nhìn các động tác nhanh gọn của anh Tí, chả mấy chốc mà đã rửa xong mấy phần chén đũa, lại mang ngay lên bếp. Nhưng dần dần Dương cũng quen, từ từ làm, chủ yếu là không để vỡ chén đũa nào nữa. Lúc xong thì trời cũng đã tối mịt, bàn tay anh ngâm nước nhiều quá cũng đã tạo thành các vết nhăn nheo.

Đã đến cuối giờ Tuất[3], quán cơm đã đóng cửa, mọi người đang tranh thủ vào bếp ăn cơm tối. Nguyễn Dương vội và mấy miếng cơm cùng canh gà nấu bí đao, thật chưa bao giờ thấy ngon thế này. Ăn xong mọi người bước vào quán, đã thấy Đỗ Hương cùng chú Tốn và quản lý Đoàn ngồi ở bàn giữa. Cô bé con mặt rất lạnh lùng, nói mấy câu khiển trách mọi người không biết chỉ bảo người mới, lại còn có ý đưa đến cho nó vào lúc khách khứa đông đúc, khiến mấy người bỏ đi. Nó cũng chả tha gì cho anh, lại còn nói anh không biết làm thì phải mở miệng hỏi, thấy đồ ăn nóng thì phải dùng khay gỗ bưng lên, nói anh từ nay trở đi dọn chỗ ngủ ở trong kho, để lúc nào rửa chén xong mà quá trễ thì vào thẳng kho, không lên lầu ngủ phiền người khác, tiện thể trông mấy bịch gạo luôn.

Mọi người bị cô chủ trách mắng, lúc đầu cũng có ý trách anh. Nhưng mà sau khi thấy anh cũng không được tốt đẹp hơn bao nhiêu, lại chuyển thành cái nhìn thông cảm. Mới được đến đây, đã có một loại tiếng hát từ đâu đó vang vọng lại, gián đoạn cả tiếng lanh lảnh của Đỗ Hương, khiến thoáng chốc, cả tầng im bặt:

“Con cò… là cò bay lả,… lả bay la ♪…Hức! [Nấc] Bay…từ, từ cửa…phủ…. ♪♫Bay…ra, là ra… cánh đồng ♪…”

Giọng hát này, đối với Nguyễn Dương mà nói, thật là…khó diễn tả. Cái chất giọng hơi khàn khàn, không du dương luyến láy bằng những ả đào, nhưng rất đỗi… Phải gọi là rất đặc biệt, đặc biệt đến nỗi không có người nào có thể dùng từ ngữ tả được (!)

Ấy vậy mà mọi người bên cạnh anh, hiện đang giãn dần nét mặt, từ từ thở phào, ngay cả quản lý Đoàn cũng vậy. ‘Hát hay đến vậy sao?’ Dương nghĩ sau khi quan sát biểu tình của mọi người. Trong lúc đó, trên mặt Đỗ Hương thoát một chút rối rắm, lầm bầm:

“Lại say rồi! Chẳng biết bị ai dụ khị đi uống rượu nữa đây?”

Rồi lại hừ lạnh một câu, cô bé nói:

“Chú Tốn, ra ngoài đỡ cậu chủ vào nhà đi! Muộn rồi, mọi người cũng đi ngủ đi, mai còn làm việc nữa!”

Sau đó, mọi người ai cũng mỉm cười thoát nạn, lại đồng thanh đáp rất to:

“Vâng ạ!”


[1] Thời nhà Lê, 1 quan = 10 tiền = 600 đồng

[2]Chữ Bò  ở đây bao gồm chữ Ngưu 牛 và chữ Phủ 甫 ghép thành.

[3] Từ 19 -21 giờ.