Mục Đích – Chương 7

Hội An, hay còn gọi Hoài Phố[1], là thương cảng rất bận rộn. Mọi thuyền buôn bán đến đây đều có nhiều mặt hàng khác nhau. Nhưng nổi tiếng nhất và nhiều nhất vẫn là lụa. Thời này giới thượng lưu Phù Tang có nhu cầu quần áo vải vóc bằng lụa rất cao, đặc biệt là khi Đại Minh cùng Nhật Bản có lệnh cấm thông thương. Vậy là nhờ có sự khuyến khích của Chúa Tiên Nguyễn Hoàng, Nhật Bản và vùng đất mới của vị Đoan Quốc Công này bắt đầu có thuyền đến giao thương.

Thương cảng Hội An này trước đã có thuyền từ các nước phía Nam đến buôn bán, nay càng thêm tấp tập. Người Việt ở làng Hội An trung tâm phố cảng lúc này thường kinh doanh khách sạn hay hàng ăn như nhà Đỗ Phương để phục vụ khách từ phương xa đến. Thậm chí có một số người Phù Tang lập cả thương điếm ở đây, lấy vợ rồi sinh con, gia đình sung túc. Các lái buôn Đại Minh cũng ghé vào Hội An thêm nhiều, một là để bán lụa, hai là để mua các đồ quí hiếm của dân phía Nam. Đương nhiên là lúc đầu tạo nên những ngôi làng tự trị Minh Hương cho người Hoa và Cẩm Phô cho người Nhật, với luật pháp tuân theo hai nước khác nhau, họ không thể buôn bán trực tiếp mà cần thông qua những lái buôn trung gian như Đỗ Phương đây.

Từ thời cha cô, cô đã học cách mua hàng mối Quảng Châu rẻ, tích trữ phân loại rồi bán giá cao cho những thương gia Phù Tang. Nhưng đến thời cô lên nắm giữ công việc, các thương nhân Hoa Nhật đã bắt đầu có các mối quan hệ, cũng như các làng nuôi tằm dệt lụa Tứ Mã ở Quảng Nam đã bắt đầu có danh tiếng. Lụa của Đại Việt đẹp và bền, còn hơn lụa Quảng Châu nên rất được yêu thích, tuy rằng không thể sản xuất nhiều bằng. Vì hàng sản xuất tại gia rẻ hơn, cô cho người chèo thuyền ngược sông Thu Bồn đến thu mua rồi bán trực tiếp cho thương gia cần thiết, đồng thời cũng giảm mối hàng đặt từ Quảng Châu. Thật không ngờ, bây giờ nó có thể hại cô như vậy.

Vốn bình thường, số lụa trong kho của cô cũng có dư cho khách hàng người Phù Tang. Nhưng một tháng trước, cô lại nhận được thư của một người phương Tây người Bồ Đào Nha, vốn là bạn làm ăn lâu đời của cha cô, nói cần cô cung cấp hai tấn lụa gấp cho ông ta trong tháng này. Cha cô nhờ một chuyến làm ăn với người này mà đã có thể một tay gây dựng sự nghiệp của gia đình, nên xem ra một câu xin lỗi với ông ta là không được. Khổ nỗi, cô cũng không thể đắc tội với các khách hàng quen của mình được.

Thật ra cũng đã khoảng năm năm từ khi ông ta và cha cô có liên lạc mua bán lần cuối. Vậy nên đây cũng là lần đầu tiên Đỗ Phương trực tiếp làm ăn với người này. Theo như cô tính toán, vốn số hàng mới đặt thêm tại làng Mã Châu cộng vào số lụa tích trữ sẽ có đủ cho cả hai, chẳng ngờ lại được lão Đoàn báo có nạn dịch bệnh dâu tằm gì đó khiến số hàng bị thụt hại không ít. Nay cô còn thiếu cả một ghe chở lụa, làm sao đây?

‘Hay là đành phải đến nhà ông Á Bội[2] thỏa thuận, nếu kéo dài được thời gian mà thật sự không có hàng về kịp, có khi cô có thể cho người chạy lên phía bắc, đến làng Vạn Bảo[3] hỏi mua lụa. Nhưng tình hình giữa hai Chúa bây giờ đang có vẻ căng thẳng, chẳng biết có đi được không đây….’ Nghĩ ngợi một hồi, cô thấy vẫn như thế là hơn. Dù sao thì thương nhân Phù Tang cũng có thể cho thuyền chở hàng về nước trễ nhất là vào đầu tháng bảy, từ giờ đến lúc đấy còn những ba tháng, trong khi người Bồ Đào Nha có thể đến bất cứ lúc nào vào tháng này.

Cô nhanh chóng rảo bước về hướng khu của người Nhật. Sông Thu Bồn chảy qua Hội An chia ra thành nhiều nhánh sông khác trước khi đổ ra Cửa Đại, nên ở đây có một vài cây cầu bắc ngang giữa các phố với nhau. Địa phận của người Phù Tang được đánh dấu bởi cây cầu họ mới xây lên cách đây mấy năm, trông rất chắc chắn. Cô bước qua cây cầu, chẳng mấy chốc đã đến Cẩm Phô.

Khu nhà của người Phù Tang không nhiều màu sắc hay quá ồn ào huyên náo như làng người Minh, với mái ngói đỏ và đèn lồng nhiều màu. Tuy cũng có nhiều người qua lại, nhưng cảnh sắc mà những tòa nhà được xây bằng gỗ, thường khoảng một hay hai tầng, lợp kín bởi mái ngói gạch màu xám, mang lại một chút cảm giác bình an trong người Đỗ Phương.

Lần này đến đây, cô đã tiện đường mua lấy hai đôi túi thêu tinh xảo, bên trong mỗi túi có chứa một nhánh trầm hương, mong có thể dùng làm quà mà xin khất hẹn mấy ngày. Bước đến một ngôi nhà kín cổng cao tường gần cuối con đường, cô đắn đo nhưng cũng gõ vào cánh cổng gỗ đen xì. Một người hầu gái mặc quần áo Phù Tang, nhanh nhẹn bước ra, cúi đầu chào Đỗ Phương rồi mời cô vào.

Căn nhà này của ông Á Bội thật to, cô phải đi ngang qua con đường lát đá cong cong xuyên qua khu vườn hoa với cái ao nhỏ trước khi đến được thềm căn nhà bằng gỗ này. Tháo giày, cô bước lên mấy bậc thang gỗ, đi theo cô hầu qua cái hành lang sáng ngời đến phòng khách của ông chủ.

Ông Á Bội đang ngồi trong phòng đọc sách khi cô hầu gái ngồi ngoài cửa thông báo Đỗ Phương đến. Theo tiếng đồng ý của ông ta, cô hầu mở cửa, chờ cho đến khi Đỗ Phương vào ngồi rồi mới đóng cửa. Nhà theo kiểu Nhật Bản được thiết kế khá sáng sủa với các khung cửa dán giấy cho ánh sáng soi vào mà không chói mắt. Cô cúi đầu chào vị khách hàng thân quen của mình và cũng được đáp lại bằng một cái gật đầu thân thiện, rồi chỉ tay mời cô ngồi xuống cái đệm đối diện ông. Cô đưa ra cặp túi thơm, nói bằng thứ tiếng Nhật cứng nhắc cô đã phải cố học mấy năm nay:

“Đây có chút quà cho ông và gia đình… Của ít lòng nhiều, mong ông sẽ thấy hữu dụng.”

“Cảm ơn anh!”

Ông cười, đỡ lấy mấy cái túi. Khi đó, cô hầu lên tiếng bên ngoài nói trà đã đến, ông cho gọi vào trong. Khi cô hầu mang trà đặt lên bàn xong xuôi, ông đưa cô mấy cái túi thêu bảo cô đi ra mà không cần rót trà.

‘Ông Á Bội cũng đã khá đứng tuổi rồi,’ cô nghĩ khi ông rót trà vào cốc mời cô. Ông mặc một bộ áo màu xanh đen cùng với quần đen, ngồi xếp bằng thẳng lưng. Cách một chiếc bàn thấp, Đỗ Phương lại thấy không khí như bắt đầu lắng đọng lại, cô nín thở. Người Phù Tang thật có phong cách quá lịch sự, khiến cô quả thật khó mở lời. Thấy cô có vẻ không tự nhiên, ông ta ra lời trước:

“Đỗ Phương, hôm nay anh đến chắc có chuyện gì muốn nói?”

Đỗ Phương cũng đành thở ra, cúi đầu, cô đáp lại bằng một tràng tiếng Nhật bắn liên hồi:

“Ngài Á Bội, tôi thật xin lỗi ngài… Nhưng hiện giờ hàng chỗ tôi đang bị mắc kẹt, ngài có thể du di cho tôi thời hạn ba tháng để gom hàng theo thỏa thuận được không?”

Ông nhìn cô, ánh mắt như dò xét, lại chầm chậm hỏi:

“Tại sao?”

Cô tròn mắt ngước lên nhìn lại ông, hơi căng thẳng nuốt nước miếng, nghe tiếng ừng ực bên tai:

“Thú thật với ngài là chỗ tôi đặt lụa báo có nạn dịch bệnh hại cây dâu, nên số lụa năm nay không thể đủ cho đơn đặt hàng được.”

“Ý tôi muốn hỏi tại sao cần đến ba tháng? Chẳng lẽ cậu không tìm được nguồn khác sao?”

Ông Á Bội nheo mắt hỏi, Đỗ Phương đành trả lời:

“Thật ra tôi cũng có ý định đó trước khi đến đây, nhưng xem ra thị trường lụa Quảng Nam có vẻ thiếu hàng năm nay nên…”

“Tôi cho cậu hai tháng thôi, ba tháng quả thật hơi quá.”

“Ngài không thể nào xem xét lại được sao?”

Vừa lúc này, có tiếng người hầu gái nhẹ nhàng cất lên:

“Thưa ông chủ, có hai người Ô Lan[4] đến nói muốn gặp ngài!”

Ông Á Bội cũng ngạc nhiên không kém gì Đỗ Phương. Hai người nhìn nhau một lúc, thấy Đỗ Phương không có phản ánh gì, ông cũng đành nói vọng ra:

“Nói họ chờ ta một chút!”

Quay lại Đỗ Phương, ông nói:

“Tôi tin cậu cũng như hai năm trước, luôn có thể làm ra chuyện khiến người khác phải ngạc nhiên!”

Đỗ Phương cố nén tiếng thở dài, đành nói:

“Vậy tôi sẽ cố gắng kiếm đủ hàng cho ngài trong vòng hai tháng. Xin cảm ơn ngài rất nhiều! Xin phép cáo từ!”

“Chào cậu!”

Ông Á Bội cười khích lệ, lên giọng gọi:

“Tín[5], cô có thể cho hai người kia vào, tiện thể tiễn cậu Đỗ về!”

“Vâng!”

Một tiếng nhận lệnh rõ ràng được thốt lên. Cánh cửa xạch mở, Đỗ Phương đứng lên bước ra trong lúc hai người Ô Lan bước vào. Cô nhận ra, hai người này chẳng ai khác mà chính là kẻ phá đám việc mua hàng của cô hôm nay: anh chàng cô đụng phải và gã bạn tóc vàng đồng hành của anh ta. Bốn mắt giao nhau, ánh mắt cô sắc lại như có tia lửa sắp sửa xẹt ra khiến người tóc đen kia đã ngạc nhiên lại thêm kinh ngạc.

Người tóc vàng không quan tâm lắm đễn Đỗ Phương, chỉ gật đầu lấy phép một cái trước khi cúi gập người chào ông Á Bội đứng sau cô, nói thứ tiếng Nhật rành rọt:

“Kính chào ngài, Á Bội tiên sinh. Tôi tên là Hein Jan và người đồng hành của tôi đây là Wonderaer Pieter[6]. Chúng tôi là đại diện của Công ty Đông Ấn Hà Lan đến đây…”

Đỗ Phương cũng chỉ nghe được đến đấy khi cánh cửa được đẩy lại phía sau cô. Cô hầu gái đưa tay ra ý mời, cô cũng đành bước theo ra ngoài. Thật là oan gia hay gặp mặt, không những hốt mất mối hàng của cô, bây giờ còn tính cướp khách hàng của cô sao? Ít ra cô đã biết được phần nào về hai kẻ phá đám kia. ‘Hừ! Bọn bay cứ chờ đấy, thù lần này ta sẽ ghi sổ, từ từ để lúc nào tính cả vốn lẫn lời.’


[1] Tên này do phố nằm bên cạnh sông Thu Bồn, trước còn gọi là Hoài Giang.

[2] Tiếng Nhật là Abe

[3] Làng lụa Vạn Bảo (còn gọi là làng Vạn Phúc) là nơi sản xuất lụa Hà Đông nổi tiếng.

[4] Tên gọi thời nay là Hà Lan

[5] Tên tiếng Nhật là Nobu

[6] Tên người châu Âu thường là tên trước họ sau, nhưng ở đây họ lại nói chuyện với chủ là người Châu Á nên phải đổi thứ tự họ tên cho nhập gia tùy tục.