Mục Đích – Chương 6

Con đường giữa phố mới sáng ra mà đã đông người qua lại, Đỗ Phương, một tay cầm quạt, một tay đung đưa nhành lan, nhanh chóng nhấc bước. Người cô cao hơn so với con gái bình thường, khuôn mặt ưa nhìn, tóc tai cũng được cắt tém gọn ghẽ, lại mặc đồ cho nam giới nên được các bà các cô khá chú ý. Lâu lâu, không chỉ có các bà đang đi chợ sớm với những tà áo tứ thân thướt tha vô tình liếc mắt mà còn có các vị cô nương mặc quần áo bằng lãnh e thẹn lấy tay chỉnh nón quai thao cao hơn một chút để nhìn rõ một hình ảnh hơi vội vã đó lướt qua.

Luôn bị nhìn như vậy, thật ra Phương lâu nay vẫn không quen cho lắm, lòng lại tự trách tại sao không thuê xe đi cho đỡ bị nhòm ngó. Sáng sớm đã bị con em nhắc nhở cho một câu, lại khiến cho cô thêm lúng túng, chân đạp đất nhanh hơn. Đã vào khu phố của người Hoa, chỉ cần đi thêm một chút nữa thôi là đến, tuy nó cũng thật sự đông đúc nhưng cô cúi đầu thở phào. Chân vẫn bước, mắt lại không nhìn đường nên cô vô tình đụng trúng người đi ngược lại một cái “rầm”, ép nhành lan kia ở giữa.

Choáng váng vì cú chạm mạnh đầu vào vai người kia, cô theo chiều phản lực lui mấy bước, tay giữ đầu như sợ nó rơi mất vậy (!) Một đôi bàn tay to lớn giữ hai vai cô lại, chờ cho cô định thần:

“Cô này, cô có làm sao không?”

Giọng một người đàn ông ấm áp vang lên giữa lúc cô vẫn lùng bùng đang muốn giữ thăng bằng. Theo bản năng không muốn người khác chạm vào mình, cô quơ tay hất bàn tay kia ra, tiện thể đáp lại:

“Không, tôi không sao!”

Lúc này đã kịp trấn tĩnh, cô giương mắt lên nhìn người đối diện, không khỏi ngạc nhiên. Anh ta có một nước da màu bánh mật, tóc dài được cột lại phía sau nhưng vẫn còn mấy cọng hơi lòa xòa ngang vai trước mặt. Anh cao hơn cô gần cái đầu, so với đàn ông Việt bình thường cũng thuộc dạng bất thường. Khuôn mặt anh khá trẻ, lại có thêm một đôi mắt sáng và các đường nét rõ ràng khiến nó sáng lên hẳn trước nền nước da nâu kia.

Nhưng cái bất ngờ nhất ở đây, là cách ăn mặc của anh, cái cách ăn mặc cô biết khá rõ. Đó chính là lối ăn mặc của những người từ phương Tây đến. Chiếc áo khoác bên ngoài bằng chất vải bông dày màu đen dài qua hông được hồ thẳng nếp, lộ ra cổ áo cùng một phần của tay áo dài của chiếc áo trong màu trắng. Quần đen ngắn chỉ qua đầu gối, anh đi tất và ủng đế cao như một số người phương Tây cô đã từng gặp. Nhưng anh đây không có nước da trắng, mắt xanh cùng cái mũi quá khổ. Và anh đây, vừa mới nói với cô một câu tiếng Việt rất sõi.

Anh nhìn cô bằng một con mắt kì lạ cũng như cô nhìn anh vậy. ‘Họ đã đến rồi sao? Không lý nào, mình chưa được báo một tiếng mà?’ Cô lại muốn nhức đầu, đang muốn mở miệng hỏi anh thì đã có tiếng hét to ở đằng sau:

“Piet, $%^&*@+_#{></!”[1]

Cô quay lại, chẳng hiểu những gì một người đàn ông tóc vàng, ăn mặc giống như anh này, đang vừa vẫy tay vừa hò hét có ý nghĩa chi cả. Họ không nói thứ tiếng cô biết, vậy họ không phải những người khách hàng cô đang chờ. Nhưng mà, họ là ai?

“Jan!”

Người thanh niên vừa mới bị cô va vào vai cũng hào hứng vẫy tay lại. Anh lách qua người cô, tiến về phía người phương Tây kia, không quên ngoảnh lại nói một câu, kèm theo một nụ cười tội lỗi:

“Tôi xin lỗi đã va phải!”

Cô ngây người, nhìn dáng người đó luồn lách qua đám đông, đến bên phía đồng bạn của mình. Lắc lắc đầu cố cho mình tỉnh lại, cô mới kiểm tra người mình. ‘Ừm, quần áo không có vấn đề gì. Quạt  vẫn cầm đây. Nhưng mà…’ Nhìn nhành lan quí đã có mấy hoa bị dập, cô trừng mắt mở to sững sờ. ‘Tức thật, làm sao bây giờ?’

Cô quay người lại nhìn về hướng người thanh niên kia vừa chạy, đang định la làng bắt đền, thì đã không thấy tăm tích hai người đó nữa. Dở khóc dở cười, cô đành phải dùng tay ngắt đi bông hoa to nhất, giờ đã bị sự chèn ép của cú va chạm làm cho đến nức thâm xì, miệng lầm bầm: “Ai… Ta thật xin lỗi chúng bay!”

Tỉa tót cho nhành lan một chút rồi, cô mới bắt đầu đi tiếp, qua mươi nhà đã đến chỗ cần thăm. Cửa hàng lụa lóng lánh đủ màu sắc, nào gấm, the, lanh, xuyến, tất cả đều có. Phương bước vào trong, người coi hàng ngay lập tức mỉm cười, nói thứ tiếng Việt khá rành rọt:

“Đỗ công tử đã đến! Xin mời vào trong!”

Được một người khác dẫn ra cửa sau, đi xuyên qua một cái vườn, Phương bước vào ngôi nhà hai tầng, nơi người chủ hàng lụa lớn nhất phố Tàu này trú ngụ. Ông chủ cửa hàng vồn vã bước ra chào khi cô vừa nhấc chân lên thềm với một giọng hơi lớ ngớ:

“Đỗ công tử, sao sáng sớm đã ghé tệ xá thế này?”

“Xin thứ lỗi tại hạ đường đột! Vốn tại hạ định ghé thăm vào tối hôm qua, nhưng vì lúc về đến nhà cũng đã trễ, không tiện làm phiền. Đành phải đến sáng nay.”

“Không, không có gì! Xin mời Đỗ công tử vào!”

Thân hình ục ịch của vị chủ như càng có vẻ trơn bóng trong mấy lớp quần áo bằng gấm màu xanh lá, khiến Phương thoáng chốc có liên tưởng đến một khúc giò lụa đang lúc lắc trước mặt. Ngồi vào ghế rồi, cô đưa ra nhành lan, cười nói với ông chủ Liễu:

“Liễu lão gia, tôi nghe nói ngài và phu nhân rất thích các loại phong lan. Nhân hôm trước tại hạ về thăm quê mới hữu duyên gặp được loại phong lan này. Nay mang đến cho gia đình xin tỏ ít lòng thành!”

“Ồ! Đa tạ Đỗ công tử có lòng!”

Trong lúc ông Liễu cười nói xuýt xoa, Phương, nhấp ít trà, cố gắng tự trấn an. ‘Đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn, vậy lễ lạc đi trước chắc cũng có thể khôn ngoan giúp đỡ mình một chút vậy!’ Ông chủ Liễu kia sau khi gọi người cất nhành lan đi cũng xoay lại hỏi chuyện, miệng cười có phần tươi hơn:

“Đỗ công tử! Hôm nay công tử đến đây sớm thế này có chuyện gì chăng? Xin cứ nói!”

“Liễu lão gia, tại hạ thật phiền ngài quá! Nói thật là tại hạ đang cần gấp khoảng bát đảm[2] lụa vàng. Vốn mối của tại hạ năm nay mất mùa dâu, không thể nào dệt đủ yêu cầu, nhưng đơn đặt đã được tại hạ nhận từ sớm, cũng khó từ chối. Thiết nghĩ Liễu lão gia cùng gia phụ cũng có chút tình qua lại, tại hạ mới dám đến hỏi…”

“Nỗi khổ của Đỗ công tử, ta có thể hiểu. Nhưng khổ nỗi, lụa trong kho của ta có bao nhiêu, chẳng cần biết là lụa vàng hay gấm hoa, vừa mới bị đặt hết rồi! Một cuộn còn không có chứ nói gì đến cả mấy trăm cân!”

“Sao ạ? Có người còn đến sớm hơn tại hạ để đặt hàng sao?”

“Phải, mới sáng ra đã có hai vị công tử, ăn mặc theo kiểu người phương Tây. Một người da trắng, một người như chúng ta nói tiếng Quảng rất tốt nữa. Nghe đâu đây là lần đầu họ đến Hội An, giá cả trả rất hậu, còn đưa tiền đặt cọc trước… Thế là ta cũng niệm tình có người biết tiếng Quảng làm phiên dịch đồng ý mất rồi!”

“Vậy là, thật sự Liễu lão gia không còn dự trữ gì có thể giúp đỡ tại hạ nữa sao?”

“Ta thật xin lỗi, nhưng mà với số lượng họ đặt. Dù cho thuyền hàng lụa mới của ta có đến vào tháng tới nữa, e rằng cũng không đủ cho họ đâu! Họ còn cần nhiều hơn thế kia, nghe nói còn đang tính đi đến các cửa tiệm khác ở gần đây nữa.”

Đỗ Phương đầu óc oong oong, nghe thấy thế còn thêm hoang mang. ‘Sao tự nhiên lại có những người cần  lụa gấp với số lượng nhiều đến thế? Ngay cả mối của ta cũng chỉ cần đến hai hay ba tấn[3] lụa… Mà ông ta tả họ ra sao nhỉ? Có hai người mặc theo lối Tây phương? Có phải là…’

Thấy Đỗ Phương im lặng, ông chủ Liễu cũng đành nói:

“Đỗ công tử, với số lượng anh cần. Chắc chỉ một ghe là chở đủ. Công tử xem còn có thể nhờ chỗ nào khác không? Nếu công tử chỉ ngồi ở đây, ta nghĩ có khi giờ này các chỗ khác đang bị hỏi đấy!”

Câu này khiến Phương tỉnh ngay lập tức: ‘Chết tiệt, mình mải suy nghĩ mà quên việc chính!’ Ngay lập tức, cô nhìn về phía ông chủ Liễu, nói mấy câu:

“Vậy tại hạ xin cáo từ!”

Nói rồi, cô cố gằng chầm chậm đi ra cửa chính, sau đó thì chạy ngay lập tức đến các cửa tiệm lớn khác trong khu. Nhưng thăm viếng hỏi thăm năm sáu nhà liền, cô cũng chỉ nhận được những cái lắc đầu xin lỗi. Đã đi gần hết cái làng Minh Hương này, bao gồm cả năm khu Quảng Đông, Phúc Kiến, Triều Châu, Hải Nam và Gia Ứng, cô lại quay lại nơi người Quảng ở, vẫn không tài nào gom đủ số được. Tức giận vì chạy suốt buổi sáng lại không được gì, lại nhớ về cái nhành lan bị bầm dập vì cú va chạm với người kia, Đỗ Phương tiện tay đấm vào cái cột nhà bên ngoài của một gian hàng, gầm ghè:

“Cái thằng cha kia! Sao lại vô duyên vô cớ hại ta? Ta hận! TA HẬN!”

“Ai đập thình thịch vào cột quán bà đấy hả? Điên à? Điên cũng về nhà mà lên cơn chứ?”

Có tiếng phụ nữ chói tai lớ ngớ mấy câu tiếng Quảng. Đỗ Phương cũng rùng mình, không nhìn lại, đập quạt vào tay, đi thẳng.


[1] Vì mọi người đang đọc là những độc giả ‘biết tuốt’, nên tác giả xin “dịch” câu nói này là: “Piet, anh ở đâu vậy?”

[2] Nhất đảm (1 đảm) tục dùng để chỉ 100 cân thời xưa, khoảng 60kg thời nay. Bát đảm ở đây tương đương với 480kg.

[3] 1 Tấn thời xưa tương đương với 604.5kg thời nay.

.